Các khuyến cáo về tầm soát ung thư cổ tử cung 

09:03, 10/01/2018

BS. Lại Thị Thu Hương

BV. Gò Vấp

Đối với tầm soát ung thư cổ tử cung (UTCTC) thì khoảng thời gian giữa các lần tầm soát, tuổi bắt đầu và kết thúc thay đổi tùy từng Quốc gia và được cập nhật theo thời gian. Trước đây, khuyến cáo phụ nữ có quan hệ tình dục nên làm Pap smear mỗi năm một lần, tuổi bắt đầu tầm soát UTCTC là 3 năm sau khi bắt đầu hoạt động tình dục.

Năm 2009, Hội Ung thư Hoa Kỳ khuyến cáo: tầm soát ít thường xuyên hơn so với hướng dẫn trước đây; tuổi bắt đầu tầm soát UTCTC là 3 năm sau khi bắt đầu hoạt động tình dục nhưng không quá 21 tuổi. Phụ nữ dưới 30 tuổi được khuyến cáo làm xét nghiệm Pap mỗi 2 năm/ lần. Phụ nữ từ 30 tuổi trở lên được khuyến cáo làm xét nghiệm Pap mỗi 3 năm/ lần nếu họ có 3 lần kết quả Pap âm tính liên tiếp [1].

Tầm soát và phòng ngừa UTCTC đã phát triển nhanh chóng trong thập kỷ qua, đặc biệt là trong vòng 5 năm kể từ khi vắc-xin phòng chống UTCTC đầu tiên (vắc-xin HPV) ra đời. Từ năm 2012, các khuyến cáo về tầm soát và phòng ngừa UTCTC được cập nhật và thay đổi như sau:

1. Khuyến cáo của WHO [3]

1.1. Đối tượng tầm soát UTCTC

Khuyến cáo trong phác đồ này áp dụng cho phụ nữ từ 30 tuổi trở lên (tuổi được khuyến nghị bắt đầu tầm soát) bởi vì nguy cơ UTCTC cao hơn. Tuy nhiên, lợi ích cuối cùng sẽ khác nhau giữa các nhóm tuổi và có thể mở rộng tới nhóm phụ nữ trẻ hơn và lớn tuổi hơn, tùy vào nguy cơ căn bản của CIN2+. Nên ưu tiên tầm soát cho phụ nữ 30-49 tuổi thay vì tối đa hóa số lần xét nghiệm trong một đời người. Tầm soát dù chỉ một lần trong đời cũng là có ích. Khoảng cách giữa các lần tầm soát có thể tùy thuộc vào khả năng tài chính, cơ sở hạ tầng và các nguồn lực khác.

Đối với những phụ nữ HIV dương tính, hoặc chưa rõ về tình trạng nhiễm HIV mà sống trong khu vực có dịch tễ HIV cao, thì nên lưu ý theo dõi. Mặc dù chứng cứ về tầm soát và điều trị để phòng ngừa UTCTC ở phụ nữ HIV dương tính có giá trị thấp hơn so với phụ nữ HIV âm tính hoặc chưa rõ về tình trạng nhiễm HIV. Việc tầm soát UTCTC nên được thực hiện ở những bé gái và phụ nữ có quan hệ tình dục và làm ngay lập tức nếu bé gái hoặc phụ nữ này có xét nghiệm HIV dương tính.

1.2. Xét nghiệm tầm soát UTCTC

Khuyến cáo bao gồm các chiến lược dựa trên ba xét nghiệm tầm soát:

-           HPV (giá trị cut - off  1.0 pg / ml),

-           Tế bào học (giá trị cut - off: ASC-US +, các tế bào lát không điển hình),

-           VIA: thích hợp với phụ nữ có vùng chuyển tiếp có thể nhìn thấy (thường là ở những người trẻ hơn 50 tuổi). Bởi vì khi mãn kinh, khu vực chuyển tiếp, nơi hầu hết sang thương tiền ung thư xảy ra, thường rút vào trong kênh cổ tử cung và làm nó không thể thấy được hoàn toàn.

1.3. Khoảng thời gian tầm soát và theo dõi

- Phụ nữ có xét nghiệm âm tính với VIA hay tế bào học (Pap), khoảng thời gian tầm soát lặp lại mỗi 3-5 năm.

- Phụ nữ có xét nghiệm âm tính với HPV, nên tầm soát lại sau một khoảng thời gian tối thiểu là 5 năm.

- Phụ nữ HIV dương tính hoặc chưa rõ về tình trạng nhiễm HIV mà sống trong khu vực có dịch tễ HIV cao, nếu xét nghiệm tầm soát UTCTC âm tính, quãng thời gian tầm soát nên lặp lại trong vòng ba năm.

- Phụ nữ đã được điều trị UTCTC nên được tầm soát kiểm tra sau điều trị một năm để đảm bảo hiệu quả điều trị.

2. Khuyến cáo của USPSTF và ACS/ASCCP/ASCP [2]

Tháng 3/2012, các tổ chức và cơ quan liên quan ở Hoa Kỳ, bao gồm U.S. Preventive Services Task Force (USPSTF), American Cancer Society (ACS), American Society for Colposcopy and Cervical Pathology (ASCCP); American Society for Clinical Pathology (ASCP) thống nhất đưa ra khuyến cáo năm 2012 về tầm soát ung thư cổ tử cung như sau:

Phụ nữ dưới 21 tuổi không nên tầm soát, bất kể tuổi bắt đầu có quan hệ tình dục. Những lý luận về khuyến cáo không tầm soát trước tuổi 21 xuất phát từ 2 chứng cứ:

-           UTCTC xâm lấn hiếm gặp ở nhóm tuổi này

-           Tầm soát có thể gây nguy hại. Ví dụ: điều trị không cần thiết cho sang thương tiền xâm lấn có thể dẫn đến biến chứng lâu dài như hẹp cổ tử cung, sanh non, ối vỡ non, ối vỡ sớm. Hơn nữa, một nghiên cứu cho thấy rằng tầm soát trước tuổi 21 có ít hoặc không tác động trên số mới mắc UTCTC xâm lấn.

Những hướng dẫn mới khuyến cáo lập lại xét nghiệm ít thường xuyên hơn, tức là, mỗi 3 năm chứ không phải là mỗi 2 năm cho phụ nữ từ 21 – 29 tuổi.

Chứng cứ về khoảng thời gian tầm soát kéo dài hơn cho phụ nữ từ 21 – 29 tuổi:

-           Các bằng chứng ủng hộ khoảng thời gian tầm soát 3 năm ở phụ nữ độ tuổi 21-29 chủ yếu từ những mô hình nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng không ngẫu nhiên đã được thực hiện. Những nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt đáng kể trong kết quả với 2 năm so với một khoảng thời gian tầm soát 3 năm.

-           Đặc biệt, nguy cơ dự đoán tuổi thọ của bệnh ung thư cổ tử cung ở phụ nữ được tầm soát mỗi 3 năm là 5-8 trường hợp mới mắc bệnh ung thư/1.000 phụ nữ, so với 4-6 trường hợp/1.000 phụ nữ được tầm soát mỗi 2 năm.

-           Tương tự như vậy, tầm soát phụ nữ dưới 30 tuổi trong khoảng thời gian 2 năm hoặc 3 năm thực hiện cùng nguy cơ suốt đời, dự đoán tử vong do UTCTC là 0,05 trên 1.000 phụ nữ, nhưng phụ nữ được tầm soát mỗi 2 năm thì trải qua soi cổ tử cung nhiều hơn 40% so với những người được tầm soát  3 năm. Vì vậy, tầm soát mỗi 3 năm cung cấp sự cân bằng tốt nhất các lợi ích và rủi ro trong nhóm tuổi này.

Phụ nữ từ 30 tuổi trở lên, đều được tầm soát bằng cách kết hợp xét nghiệm tế bào học và thử nghiệm HPV nên được tầm soát lại mỗi 5 năm nếu cả hai xét nghiệm là âm tính (thay vì 3 năm một lần như trước đây đề nghị). Ngoài ra, họ có thể được tầm soát bằng 1 xét nghiệm tế bào học mỗi 3 năm.

Thêm xét nghiệm HPV với xét nghiệm tế bào học làm tăng độ nhạy của tầm soát, do đó khuyến cáo kéo dài khoảng thời gian tầm soát mỗi 5 năm ở phụ nữ độ tuổi từ 30 đến 65 mà có nguy cơ thấp và những người có kết quả âm tính trên cả hai xét nghiệm. Cụ thể, bổ sung thêm xét nghiệm HPV cải thiện độ nhạy của việc tầm soát tân sinh trong biểu mô cổ tử cung độ 3 (CIN3), rồi sau đó tầm soát, do đó ít trường hợp CIN3 hoặc tệ hơn (CIN3 +) hoặc ung thư được phát hiện.

Chúng ta có thể ngưng tầm soát phụ nữ ở tuổi 65 nếu họ đã có tầm soát đầy đủ cho đến khi sau đó và không có tiền sử tân sinh trong biểu mô cổ tử cung độ 2 hoặc tệ hơn (CIN2 +) trong 20 năm qua. Sau khi tầm soát được ngưng, không nên tiếp tục, ngay cả khi bệnh nhân có một bạn tình mới. Chứng cứ:

-           Ở phụ nữ trên 65 tuổi, những người đã có tầm soát tốt, UTCTC là rất hiếm và CIN2 + không phổ biến. Kulasingam và cộng sự, trong một nghiên cứu can thiệp thực hiện bởi USPSTF, đã tính được rằng việc tiếp tục tầm soát cho đến 90 tuổi để ngăn chặn bệnh ung thư chỉ có 1,6 trường hợp và 0,5 người chết vì ung thư và kéo dài tuổi thọ chỉ có 1 năm/1.000 phụ nữ.

-           Các nghiên cứu khác gần đây cũng cho thấy rằng lây nhiễm HPV có nguy cơ cao ở phụ nữ tuổi từ 65 trở lên có liên quan với việc tiếp tục tồn tại HPV và CIN3 + tiến triển là rất thấp.

-           Ngoài ra, UTCTC mất trung bình từ 20 đến 25 năm để phát triển sau khi nhiễm HPV nguy cơ cao. Ngoài ra, tiếp tục tầm soát ở dân số lớn tuổi này sẽ phát hiện chỉ có một số rất ít trường hợp mới của CIN2 + và có thể dẫn đến tác hại từ điều trị quá mức.

-           Cuối cùng, phụ nữ mãn kinh thường có các vùng biến đổi cổ tử cung nhỏ hơn và ít tiếp cận được, điều này có thể đòi hỏi sự can thiệp nhiều hơn để có được mẫu đầy đủ và điều trị.

3. Bộ y tế Việt Nam

Mục tiêu của chương trình quốc gia phòng chống ung thư tại Việt Nam bao gồm: Từng bước giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do ung thư, cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân ung thư. Năm 2011 Bộ Y tế đã ban hành “Hướng dẫn tầm soát, điều trị tổn thương tiền ung thư để dự phòng thứ cấp ung thư cổ tử cung” (Quyết định 1476/QĐ-BYT ngày 16/5/2011, Bộ Y tế) được tóm tắt theo bảng sau:

 

 Tài liệu tham khảo

1.         Fields M. M (2013). "New cervical cancer screening guidelines: was the annual pap too much of a good thing?". J Adv Pract Oncol, Vol 4 (1), pp. 59-64.

2.         Jin X. W, Lipold L, McKenzie M, Sikon A (2013). "Cervical cancer screening: what's new and what's coming?". Cleve Clin J Med, Vol 80 (3), pp. 153-160.

3.         WHO (2013). WHO Guidelines Approved by the Guidelines Review Committee. WHO Guidelines for Screening and Treatment of Precancerous Lesions for Cervical Cancer Prevention, World Health Organization 2013, Geneva, pp. 9-10.

Các tin mới hơn
Các tin cũ hơn
Các tin đã đưa ngày
Tư vấn & Hỏi đáp
Cho em hỏi là trong 5 năm vừa qua em có đi chụp hình X-quang rất nhiều lần, cụ thể là 26 lần: 3 lần
Theo quy định, 1 người không được vượt quá 20 mSv mỗi năm. Bạn chụp Xquang...
Em mới xét nghiệm có bị HIV, cho em hỏi là: - Sau này em phải uống thuốc ARV vĩnh viễn, tức là
Em mới xét nghiệm HIV khẳng định dương tính cần phải điều trị thuốc ARV ngay...
Các biểu hiện cảnh báo bệnh tim mạch cần cấp cứu là gì? Cách xử trí?
Đau thắt ngực: bệnh nhân đau ngực dữ dội, cảm giác bị bóp nghẹt trong lồng...
Tôi mới chụp CT mạch vành về. Lúc tiêm thuốc cản quang, tôi thấy có 1 luồng nóng ran
Thuốc cản quang có khả năng gây ra phản ứng thuốc với 3 cấp độ: Cấp...