BỆNH DẠI TRÊN NGƯỜI 

14:11, 22/01/2018

BS. Lại Thị Thu Hương

BV. Gò Vấp

Bệnh dại thuộc bệnh truyền nhiễm nhóm B trong Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm ở Việt Nam. Bệnh thường lưu hành ở các nước thuộc khu vực châu Á và châu Phi.

Ở Việt Nam, bệnh dại lưu hành và phát triển ở hầu hết các tỉnh/thành phố với nguồn truyền bệnh chính là chó. Bệnh thường tăng cao vào mùa nắng nóng từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm. Theo thông tin từ Cục Y tế Dự phòng, bệnh dại có xu hướng tăng cao trở lại. Nếu như năm 2016 cả nước có 91 ca tử vong do bệnh dại (tăng 17% so với năm 2015 và tăng 38% so với năm 2014); riêng 9 tháng năm 2017 đã có 57 ca tử vong do bệnh dại, trong đó có 01 ca ngụ tại Phường 11, quận Gò Vấp.

1. Tác nhân gây bệnh

Vi rút dại thuộc họ Rhabdoviridae, giống Lyssavirus, có vật liệu di truyền là ARN, vỏ ngoài là lipid. Vi rút dại có đặc điểm:

- Sức đề kháng yếu,

- Dễ bị bất hoạt bởi nhiệt độ,

- Dễ bị phá hủy bởi các chất hòa tan lipid (xà phòng, ether, chloroform, acetone),

- Rất nhạy cảm với tia cực tím,

- Bị bất hoạt nhanh chóng trong dung dịch cồn, cồn i ốt.

2. Nguồn bệnh

Ổ chứa vi rút dại trong thiên nhiên là động vật có vú, máu nóng như chó sói, chó rừng, chó nhà, mèo, chồn, cầy, cáo và động vật có vú khác. Ở Việt Nam, chó là nguồn truyền bệnh dại chủ yếu.

3. Thời gian ủ bệnh ở người thông thường là từ 1- 3 tháng sau phơi nhiễm, hiếm khi có trường hợp thời gian ủ bệnh ngắn dưới 9 ngày hoặc dài tới một vài năm. Thời gian ủ bệnh phụ thuộc vào:

- Tình trạng nặng nhẹ của vết cắn,

- Vị trí của vết cắn có liên quan đến nơi có nhiều dây thần kinh,

- Khoảng cách từ vết cắn đến não,

- Số lượng vi rút xâm nhập.

Vết cắn càng nặng và gần thần kinh trung ương thì thời gian ủ bệnh càng ngắn.

4. Thời kỳ lây truyền

Ở chó nhà là từ 3-7 ngày (tối đa là 10 ngày) trước khi chó có triệu chứng dại và trong suốt thời kỳ phát bệnh.

Ở người, vi rút đào thải qua các chất tiết (nước bọt, nước mắt, nước tiểu …) của người bệnh trong suốt thời gian phát bệnh. Tuy nhiên, khả năng lây truyền từ người sang người là vô cùng hiếm gặp.

5. Chó nghi dại

Thường có các biểu hiện lâm sàng chia thành 2 thể là thể điên cuồng và thể dại câm (bại liệt) đôi khi chó có cả 2 thể lâm sàng xen kẽ nhau, thời gian đầu có biểu hiện điên cuồng, bị kích động, rồi sau đó chuyển sang dạng bị ức chế và bại liệt.

a. Thể điên cuồng: chỉ chiếm khoảng 1/4 các trường hợp, các phản xạ vận động bị kích thích mạnh, cắn sủa người lạ dữ dội, quá vồ vập khi chủ gọi, chỉ cần có tiếng động nhẹ cũng nhảy lên sủa từng hồi dài, dữ tợn, điên cuồng (2-3 ngày sau khi phát bệnh). Con vật bỏ nhà ra đi và thường không trở về. Trên đường đi, gặp vật gì lạ nó cũng cắn gặm, ăn bừa bãi, tấn công chó khác, kể cả người. Chó chết do liệt cơ hô hấp và do kiệt sức vì không ăn uống được.

b. Thể dại câm: Con vật có thể bị bại ở một phần cơ thể, nửa thân hoặc 2 chân sau, thường là liệt cơ hàm, nước dãi chảy lòng thòng, con vật không cắn, sủa được, chỉ gầm gừ trong họng.

Đối với chó con: triệu chứng dại thường không điển hình, nhưng tất cả các con chó bị mắc bệnh dại đều chết trong vòng 10 ngày kể từ khi chó có triệu chứng dại đầu tiên.

Mèo ít bị mắc dại hơn chó. Bệnh dại ở mèo cũng tiến triển như ở chó, mèo hay núp mình vào chỗ vắng hoặc hay kêu, bồn chồn như khi động dục, cắn khi có người chạm vào.

6. Đường lây truyền bệnh dại

Bệnh lây truyền chủ yếu qua vết cắn hoặc vết cào, liếm của động vật bị dại lên trên da bị tổn thương.

Ngoài ra, vi rút dại còn có thể lây truyền từ người sang người qua cấy ghép mô, phủ tạng và vết cắn hoặc tiếp xúc với chất tiết của bệnh nhân bị dại cũng đã được báo cáo.

7. Chẩn đoán bệnh dại trên người: chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng đặc trưng của bệnh và tiền sử phơi nhiễm với vi rút dại. Các biểu hiện lâm sàng của bệnh dại trên người là: Sợ nước, sợ gió, co giật, liệt, dẫn đến tử vong. Khi đã lên cơn dại, tỷ lệ tử vong gần như 100% (đối với cả người và động vật).

Chẩn đoán xác định bệnh dại bằng các kỹ thuật xét nghiệm:

- Phát hiện kháng nguyên (FAT),

- Phân lập vi rút, kỹ thuật sinh học phân tử (RT - PCR),

- Phát hiện kháng thể (ELISA, RFFIT, FAVN).

Tuy nhiên, trên thực tế do tính nguy hiểm của bệnh dại, nên khi bị động vật nghi dại cắn, người bệnh phải được giám sát và điều trị dự phòng khẩn cấp mà không chờ chẩn đoán xác định bệnh dại ở động vật bằng xét nghiệm.

8. Phòng, ngừa bệnh dại:

Bệnh dại trên người có thể phòng và điều trị dự phòng bằng vắc xin và huyết thanh kháng dại. Tiêm vắc xin dại cho cả người và động vật (chủ yếu là chó) là biện pháp hiệu quả để phòng, chống bệnh dại.

8.1. Truyền thông phòng, chống bệnh dại

Mục đích: để người dân chủ động phòng bệnh cho bản thân và cộng đồng.

Nội dung truyền thông:

- Đối với từng hộ gia đình:

ü Tính chất nguy hiểm của bệnh dại,

ü Không nuôi chó, mèo gây ô nhiễm môi trường.

ü Dự phòng trước phơi nhiễm.

- Đối với những hộ đang nuôi chó, mèo: Cam kết thực hiện:

ü Tiêm phòng dại cho chó, mèo;

ü Không nuôi chó thả rông;

ü Không để chó cắn người.

- Đối với những người có nguy cơ cao phơi nhiễm với vi rút dại như: cán bộ thú y; nhân viên phòng thí nghiệm làm việc với vi rút dại, người nuôi, giết mổ, vận chuyển, kinh doanh chó, mèo: cần tiêm phòng trước phơi nhiễm.

8.2. Dự phòng trước phơi nhiễm

- Tiêm vắc xin dự phòng bệnh dại cho những người có nguy cơ cao phơi nhiễm với vi rút dại.

- Tiêm nhắc lại theo định kỳ: Áp dụng cho những người do công việc thường xuyên có nguy cơ tiếp xúc với vi rút dại và chỉ tiêm nhắc lại 1 liều khi xét nghiệm chuẩn độ kháng thể dại ở mức dưới 0,5UI/ml.

8.3. Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm

Điều trị dự phòng nên được tiến hành càng sớm càng tốt sau khi bị phơi nhiễm, bao gồm: rửa vết thương, tiêm vắc xin phòng dại hoặc/và sử dụng huyết thanh kháng dại nếu có chỉ định.

Những người bị chó, mèo cắn phải thực hiện nghiêm ngặt nội dung sau:

8.3.1. Xử lý vết thương

- Rửa ngay thật kỹ tất cả các vết cắn/cào trong 15 phút với nước và xà phòng, hoặc nước sạch, sau đó sát khuẩn bằng cồn 450-700 hoặc cồn i ốt  để làm giảm thiểu lượng vi rút dại tại vết cắn. Có thể sử dụng các chất khử trùng thông thường như rượu, cồn, xà phòng các loại, dầu gội, dầu tắm để rửa vết thương ngay sau khi bị cắn.

- Không làm dập nát thêm vết thương hoặc làm tổn thương rộng hơn,

- Tránh khâu kín ngay vết thương. Trường hợp bắt buộc phải khâu thì nên trì hoãn khâu vết thương sau vài giờ đến 3 ngày và nên khâu ngắt quãng/bỏ mũi sau khi đã tiêm phong bế huyết thanh kháng dại vào tất cả các vết thương.

- Tùy trường hợp cụ thể có thể sử dụng kháng sinh và tiêm phòng uốn ván.

8.3.2. Tiêm vắc xin phòng dại hoặc/và huyết thanh kháng dại :

Tùy theo tình trạng động vật, hoàn cảnh bị cắn hoặc tiếp xúc với nguồn bệnh, vị trí bị cắn, số lượng, tình trạng vết cắn và tình hình bệnh dại trong vùng mà chỉ định tiêm vắc xin phòng dại hoặc/và huyết thanh kháng dại.

v Đối với những người chưa được tiêm phòng bệnh dại: Chỉ định điều trị dự phòng bệnh dại sau phơi nhiễm theo bảng tóm tắt dưới đây:

 

Phân độ vết thương

 

Tình trạng

vết thương                  

Tình trạng động vật

(Kể cả động vật đã được tiêm phòng dại)

 

Điều trị dự phòng

 

Tại thời điểm  cắn người

Trong vòng 10 ngày

Độ I

Sờ, cho động vật ăn, liếm trên da lành

 

 

Không điều trị

Độ II

Vết xước, vết cào,  liếm trên da bị tổn thương, niêm mạc

 

Bình thường

 

Bình thường

Tiêm vắc xin dại ngay, dừng tiêm sau ngày thứ 10

Ốm, có xuất hiện triệu chứng dại, mất tích

Tiêm vắc xin dại ngay và đủ liều

Có triệu chứng dại, hoặc không theo dõi được con vật

 

 

Tiêm vắc xin dại ngay và đủ liều

Độ III

Vết cắn/cào chảy máu ở vùng xa thần kinh trung ương

 

Bình thường

 

Bình thường

Tiêm vắc xin dại ngay, dừng tiêm sau ngày thứ 10

Ốm, có xuất hiện triệu chứng dại, mất tích

Tiêm vắc xin dại ngay và đủ liều

Có triệu chứng dại, hoặc không theo dõi được con vật

 

Tiêm huyết thanh kháng dại và vắc xin dại ngay

- Vết cắn/cào sâu, nhiều vết

- Vết cắn/cào gần thần kinh trung ương như đầu,  mặt,  cổ

- Vết cắn/cào ở vùng có nhiều dây thần kinh như đầu chi, bộ phận sinh dục

- Bình thường

- Có triệu chứng dại

- Không theo dõi được con vật

 

 

 

Tiêm huyết thanh kháng dại và vắc xin phòng dại ngay.

 

v Đối với người đã tiêm phòng dại:

Nguyên tắc điều trị dự phòng sau phơi nhiễm như sau:

- Xử lý vết thương theo thường quy.

- Không cần tiêm huyết thanh kháng dại.

- Tiêm vắc xin phòng dại.

9. Lịch tiêm Vắc xin dại - Verorab (xuất xứ: Pháp), có 2 phác đồ dưới đây được WHO đồng ý và khuyến cáo sử dụng:

Phác đồ

Liều (cho 1 đợt điều trị dự phòng)

Đối tượng áp dụng

Chưa từng tiêm vắc xin phòng dại

Đã tiêm vắc xin đủ phác đồ trong vòng 5 năm

Tiêm bắp

0,5ml/lần

Tiêm 5 lần theo lịch, vào ngày: 0, 3, 7, 14, 28

Tiêm 2 lần theo lịch, vào ngày: 0, 3

Tiêm trong da

0,1ml/lần

Tiêm 8 lần:

Tiêm 2 liều tại 2 vị trí khác nhau vào các ngày 0, 3, 7.

Tiêm 1 liều vào ngày 28 và ngày 90 (Phác đồ 2-2-2-1-1)

Tài liệu tham khảo

1. Hướng dẫn giám sát, phòng chống bệnh dại trên người, theo Quyết định số 1622/QĐ-BYT ngày 08/5/2014 của Bộ y tế.

2. http://www.pasteurhcm.gov.vn/news/benh-dai-87.html

Các tin mới hơn
Các tin cũ hơn
Các tin đã đưa ngày
Tư vấn & Hỏi đáp
Cho em hỏi là trong 5 năm vừa qua em có đi chụp hình X-quang rất nhiều lần, cụ thể là 26 lần: 3 lần
Theo quy định, 1 người không được vượt quá 20 mSv mỗi năm. Bạn chụp Xquang...
Em mới xét nghiệm có bị HIV, cho em hỏi là: - Sau này em phải uống thuốc ARV vĩnh viễn, tức là
Em mới xét nghiệm HIV khẳng định dương tính cần phải điều trị thuốc ARV ngay...
Các biểu hiện cảnh báo bệnh tim mạch cần cấp cứu là gì? Cách xử trí?
Đau thắt ngực: bệnh nhân đau ngực dữ dội, cảm giác bị bóp nghẹt trong lồng...
Tôi mới chụp CT mạch vành về. Lúc tiêm thuốc cản quang, tôi thấy có 1 luồng nóng ran
Thuốc cản quang có khả năng gây ra phản ứng thuốc với 3 cấp độ: Cấp...